VÈ TIỂU THIẾP

MỘT BÀI VÈ BÌNH ĐỊNH NỮA – VÈ THỊT CẦY

Ve vẻ vè ve – chặt vè chó cụt(?) – Chặt thò chặt thụt – Chặt mút rau câu – Đứa đằng đầu – đứa đằng đít …

Đọc tiếp »

Entry

Ngày không bọt – Minh Đan

Nguồn: vanvn.net

VanVN.Net – Minh Đan tên đầy đủ là Lữ Ngọc Minh Đan, sinh năm 1979 tại Bình Định. Hiện sống và làm việc tại TP. HCM. Có vẻ như hơi “đa mang” đối với một phụ nữ khi cùng lúc Minh Đan say mê làm báo, làm thơ và làm du lịch. Nhưng tất cả những đam mê đó đã giữ cho chị trạng thái cân bằng, bình thản để sống, trải nghiệm và yêu thương… “Ngày không bọt” là tập thơ thứ hai (và là tập sách thứ ba) của Minh Đan. VanVN.Net trân trọng giới thiệu tới bạn đọc chùm thơ chọn trong tập mới nhất này.

Tác giả Minh Đan (Ảnh do nhân vật cung cấp)

 

Gửi Tokyo

 

Tokyo

trả lại ta hơi thở

chàng trai bị mi cám dỗ

trả mắt và môi

cháy lửa những triền sông

 

Tokyo

men Sake chếnh choáng

những môi anh đào

mi có hết những gì anh thiếu

trừ vẻ dịu dàng

 

Tokyo

trả lại ta chàng thanh trai và đóa điệp vàng

rụng khờ dại trong chiều Chúa nhật

anh đi mi vẫn cứ lưng trời cao ngất

chỉ ta quỳ gối âm ba vỡ

 

Tokyo chiều nay

mi có thấy chim én về biển Nam

mẹ rứt ruột sanh con

ta gọi người nứt hoang tưởng những thân cây

 

Tokyo

tên mi gọi bằng thuốc ngủ

ta trôi

Tokyo trôi

ký ức buồn…

 

Saigon, 05/2009

 

 

Vén thì

 

Lắng

gọt giũa ngày đông

dệt đôi chiếu ấm

bóng non cao đổ

đêm ghì

đợi hình hài mới

vén thì.

 

Saigon, 12/2010

 

Biển mặn

Tan bờ rồi, sóng không buồn vỗ

muối không buồn mặn

em buồn gói tên anh vào ngọn trắng

dưới lòng sâu nụ hôn

cát

 

Mất nhau

biển cạn

cát bỏng

em vụt tay

khuấy những giọt nước mắt.

 

Nhatrang, 08/2009

 

Bìa tập thơ “Ngày không bọt” của Minh Đan

 

Nhảy kim

 

Ra đi

tìm nửa cuộc đời

quẩn quanh bát nháo lơi bơi

chợ tình

 

ngày trơ mắt bão môi xinh

sóng ánh mắt

cứ lình kình nhú gai

 

về thôi thâu

tóm bi hài

mỏi mê

cười… khóc lên hai

vai gầy

 

nhân duyên giả định buồn rây

ba mươi

tủi

nhảy kim bày cuộc chơi…

 

Saigon, 12/2009

 

 

Miền gió chướng

 

Gió mười phương bật thức đại dương

cô đơn em

băng băng sóng vực

 

Đứng lên thôi

cho rạn vỡ máu

gió lịch xịch

trăm năm phơi ngửa cội nguồn

 

Giữa lốc cuốn sa mạc

chán chường

xương rồng mọc

bão cát khua động niềm im lặng

hoa nở

màu hi vọng.

 

Phanthiet, 09/2008

 

Ngày không bọt

 

Ngậm gió

thở hơi em nhú trắng

sương

nụ hôn đồi xanh xanh

thông xanh xanh

rondo * vòng quanh

 

Thác bọt

ngày không bọt

cao nguyên áo bay

cạn chén

kỷ nguyên

mới…

 

dalat, 01/2010

————————

(*) một thể loại âm nhạc của Mozart.

TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN

NGUYỄN VIỆT CHIẾN
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình góa phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

Nguyễn Việt Chiến
(*) Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa

THỜI ĐẤT NƯỚC GIAN LAO

  • NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Chúng đã

ngủ

cả rồi

những

con hươu

bị bóng đêm

săn đuổi

chúng

đang

gác cặp sừng

lên vầng trăng

cuối tháng

rồi nằm mơ

về

một cánh rừng

không có thuốc đạn

và súng săn

Họ

đã

ngủ cả rồi

những người lính

bị chiến tranh

săn đuổi

họ nằm mơ

gặp lại bầy hươu

gác sừng

lên

người bạn vô danh

trên cánh rừng

đã chết

Chỉ còn lại

vầng trăng

và giấc ngủ

chỉ còn lại

dấu vết cuối cùng

của bầy hươu bị săn đuổi

chỉ còn lại

câu thơ thầm lặng

về những người

đã ra đi

chỉ còn lại

những gì

không còn lại

bởi

người

đau đớn nhất

sau chiến tranh

không ai khác

ngoài mẹ

của chúng ta

những đứa con

không trở về

hoà bình

dưới

mưa phùn

được đắp

bằng

cỏ non

và nước mắt

*

*   *

Đêm đêm

những người con

ngỡ đã đi thật xa

đang lặng lẽ

trở về

họ lẫn

vào gió

vào sương đêm

không cần an ủi

họ chẳng ồn ào

như lời ca

sôi sục

ngày ra đi

họ còn nguyên

tuổi trẻ

những người lính

chưa

tiêu phí

một xu mơ ước

chưa

tiêu hoài một đồng

thanh xuân

họ trở về

tìm lại

trang sách học trò

đêm đêm

còn thao thức

trên

cánh đồng tiếng Việt

ngàn năm

Mẹ lại thấy

chúng con về

như cánh cò

tuổi thơ lưu lạc

đã bao ngày

phải xa rời

thôn ổ yêu thương

chúng con

trở về tìm lại

giọt nước mắt

xót xa

và đắng cay của mẹ

một bên

là núi sông

ngăn cách

còn bên kia

là bóng đêm

chiến tranh

vẫn biết

đạn bom

không có mắt

vẫn biết

hận thù không thể

phân biệt nổi

đâu là hoa sen

đâu là bùn tối

nhưng các anh

vẫn phải ra đi

các anh

phải ra đi

lời ru

chùa Tây Phương

những La Hán mặt buồn

người thợ mộc

xứ Đoài

lấy thân xác

hom hem của mình

làm mẫu vẽ

ba mươi sáu

dẻo xường sườn

réo rắt

tấu lên

bản đàn tam thập lục

người gẩy đàn

thì

đau đớn

mà bản nhạc

viết cho đàn

lại reo vui

*

*   *

Mẹ

đã sống

dưới mưa phùn

ảm đạm

những ngày dài

nghèo đói

quắt quay

Mẹ thiếu sữa

sinh

đứa con thiếu tháng

Tổ quốc

xanh xao

Tổ quốc

hao gầy

Mẹ

có mặt

trong dòng người

nhẫn nại

lặng lẽ xếp hàng

từ mờ sớm

tới đêm hôm

Mẹ lần hồi

thời cơm tem

gạo phiếu

nuôi lớn

những người con

rồi

gửi tới chiến trường

Mẹ đã khóc

lúc rời ga

Hàng Cỏ

những đoàn tầu

hun hút

tuổi hai mươi

một thế hệ

hồn nhiên

không biết chết

chưa từng yêu

khi

gục ngã

cuối trời

Mẹ ở lại

với sông Hồng

tần tảo

áo phù sa

lam lũ tháng ngày

câu quan họ

cất

trong bồ thóc cũ

sông Cầu trôi

như

một tiếng thở dài…

*

*   *

Tàu

xuyên đêm

tiếng gió xé

bánh xe lăn

quần quật

đêm nay

họ trở lại

một thời gian lao

đường vào Nam

hun hút

những chuyến tầu

máu rất đỏ

tuổi hai mươi

nằm lại

câu hát bảo:

tuổi hai mươi

những người đi trẻ mãi

câu thơ bảo:

đất nước

hình cánh võng

mẹ ru ta

và ở

hai đầu đêm

võng mắc

dọc rừng già

trăng

cũng sốt rét rừng

như ta sốt

trăng mất máu

như bạn ta

thủa trước

dọc cánh rừng na-pan

sông

Thạch Hãn

nước

mùa này

còn ấm

và các anh

trong suốt

những người

hy sinh

thời gian lao

mây

Quảng Trị

mùa này

vẫn một mầu

huệ trắng

trên Cổ Thành

như  ngày

các anh

ngã xuống

những người hy sinh

thời gian lao

mưa gió

Trường Sơn

mùa này

vẫn tắm gội

những người con

nằm lại

thời đất nước

gian lao

những cánh rừng

cuối thu

ngủ dưới mưa phùn

đất nước tôi

những người

nằm trong đất

chất phác như bùn

hồn nhiên như cỏ

buồn đau

không còn thở than

những ngọn sóng đất đai

lưu giữ

mọi thăng trầm

người chép sử

ngàn năm

là bùn đất

kiên trì

và nhẫn nại

máu của người

mực viết thời gian.

N.V.C
(Giải B Thơ Văn nghệ Quân đội 2008 – 2009)

Những thi phẩm bất tử

BẾN MY LĂNG

  • Yến Lan

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.

Ông không muốn run người ra tiếng địch,
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch,
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.

Trôi quanh thuyền những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng trăng.
Chiều ngun ngút dài trôi về nẻo quạnh,
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng.

Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngàn trăng.

Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng!
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
Y.L

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

  • Hoàng Cầm

Em ơi ! buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu ?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng
Mộng bình yên
Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những cô nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu… Về đâu…
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ chợ Sủi người đua chen
Bãi Tràm Chỉ người dăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa màu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu… về đâu…
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp bên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
– Con là ai – Con ở đâu về
Hé một cánh liếp
– Con vào đây bốn mảng tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao lóe giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu xế trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Tiếng em cắt cỏ chiều xưa
Căm căm gió rét mịt mờ mưa bay
“Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”
Em ơi ! Đừng hát nữa ! Lòng anh đau
Mẹ ơi ! Đừng khóc nữa ! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
Việt Bắc, tháng 4- 1948

Thơ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Chiều Hương Giang

Sau chiều nay, còn buổi chiều khác nữa
Có thể mây cao, có thể nắng vàng
Cơn gió thổi những buổi chiều chưa tới
Tóc bao người bay rợi cả không gian

Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ
Bên bờ sông như chưa biết chiều tan
Tôi với nó lặng im bè bạn
Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang

Những buổi chiều, những buổi chiều quê hương
Tôi đã sống và tôi chưa được sống…
Nhưng chiều nay vô tình trong nắng muộn
Mắt tôi nhìn trong suốt nước Hương Giang

(1981)

Cỏ ngọt

Đứng đấy tự bao giờ, bên dòng sông cũ
Con bò gặm cỏ

Chậm rãi
Một ít bóng đêm và ít hạt bình minh
Từng miếng một, nhai và thở

Không nghe tiếng người, tiếng xe cộ lại qua
Bụi bặm một ngày kiếm sống,
Nó nghe thấy vị ngọt từng cọng cỏ

Đầy khao khát
Nó để lại trong làn sương mỏng ven sông
Mùi bất chợt của cỏ dại
Chút ẩm ướt của thời gian

(2006)

Thơ tuyển

Thơ Nguyễn Duy

NHÌN TỪ XA… TỔ  QUỐC !

Đối diện ngọn đèn

trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng

Đêm Bắc bán cầu vần vụ trắng

nơm nớp ai rình sau lưng ta

Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà

xa vắng

núi và sông

và vết rạn địa tầng

Nhắm mắt lại mà nhìn

thăm thẳm

yêu và đau

quằn quại bi hùng

Dù ở đâu vẫn Tổ quốc trong lòng

cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá

ai cứ  sau mình lẩn quất như ma

Ai ?

im lặng !

Ai ?

cái bóng !

Ai ?…

xin chào người anh hùng bất lực

dài ngoẵng

bóng máu bầm đen sóng soải nền nhà

Thôi thì ta quay lại

truyện trò cùng cái bóng máu me ta

Có một thời ta đã hát đồng ca

chân thành và say đắm

ta là ta mà vẫn cứ  mê ta (1)

Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm

hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương

mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm

Vâng – một thời không hể nào phủ nhận

tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng

Thần tượng gỉa xèo xèo phi hành mỡ

ợ  lên thum thủm cả tim gan

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh

nỗi day dứt không nguôi còn sạn gót chân

nhói dài mỗi bước

Ai ?

không ai !

Vết bầm đen đấm ngực

xxx

Xứ sở nhân tình

sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu

nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sỹ gọi con đội mồ lên đi kiện

ma cụt đầu phục kích nhà quan

Ai ?

không ai !

Vết bầm đen quều quào dơ tay

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma

ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…

quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

Đêm huyễn hoặc

dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác

mắt ai xanh lè lạnh toát lửa ma trơi

Ai ?

không ai

Vệt bầm đen ngửa mặt lên trời

Xứ sở linh thiêng

sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác

đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Giấy rách mất lề

tượng Phật khóc, Đức Tin lưu lạc

Thiện ác – nhập nhằng

Công lý nổi lênh phênh

Ai ?

không ai

Vệt bầm đen tọa thiền

Xứ sở thông minh

sao thật lắm trẻ con thất học

lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt

tuổi thơ oằn lưng xuống chiếc bơm xe đạp

tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Bịt mắt bắt dê (2) đâu cũng đụng thần đồng

mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

Ai ?

không ai

Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

Xứ sở thật thà

sao thật lắm thứ điếm

điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng

vì hạ giá linh hồn

Ai ?

không ai

Vết bầm đen vò tai

Xứ  sở cần cù

sao thật lắm Lãn ông

lắm mẹo lãn công

Giả vờ lĩnh lương

giả vờ làm việc

Tội lỗi dửng dưng

lạnh lùng gian ác vặt

Đạo chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn

buôn hàng lậu – buôn quan

– buôn thánh thần – buôn tuốt

quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

Ai ?

không ai

Vết bầm đen nhún vai

Xứ sở bao dung

sao thật lắm thần dân lìa xứ

lắm cuộc chia ly toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa

chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh

nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Ai ?

không ai

Vết bầm đen rứt tóc
Xứ sở kỷ cương

sao thật lắm vua

vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chĩa (3)

vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…

Lãnh chúa sứ  quân san sát vùng cát cứ

lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như  đùa – như có – như không

một người đi chật cả con đường

Ai ?

không ai

Vết bầm đen gập vuông thước thợ

?… ?… ?…

Ai ? A i ? Ai  ?

không ai

Vết bầm đen còng còng dấu hỏi

Thôi thì ta trở về

còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại

còn chút gì le lói ở trong lòng

Đôi khi nổi máu lên đồng

hồn thoát xác

rũ ruột gan ra đếm

Chích một giọt máu đem xét nghiệm

tí trí thức – tí thợ cầy – tí điếm

tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề

Phật và Ma… mỗi thứ một tí ti…

Khốn nạn thân nhau

nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt đi – lần nữa mãi mà chi

dù dối nữa cũng không lừa được nữa

khôn và ngu cũng có tính mức độ

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao

miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít

mất vệ sinh bội thực tự hào

Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi

bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại

biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới

thầy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại

lạy ông – cơ – chế, lạy bà – tư – duy

xin đừng hót những điều chim chóc mãi

Đừng lớn lời khi dân lành ốm đói

vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Đổi mới thật hay giả vờ đổi mới?

máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

Thật đáng sợ ai không có ai thương

càng đáng sợ không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết

ta là gì? ta cần thiết cho ai?

xxx

Có thể ta không tin ai đó

có thể không ai tin ta nữa

dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao

đừng khoanh tay

khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn?

những người tốt đang cần liên hiệp lại

Dù có sao vẫn Tổ Quốc trong lòng

mạch tâm linh trong sạch vô ngần

còn thơ còn dân

ta là dân: vậy thì ta tồn tại

Gịot từng gịot

nặng nhọc

Nặng nhọc thay

Dù có sao

đừng thở dài

còn da lông mọc còn chồi nảy cây (4)

Mạc Tư Khoa tháng 5/1983

TP. Hồ Chí Minh 19/8/1988

Nguyễn Duy

Chào quý vị

Chào mừng quý vị đã đến với blog chuyện Văn!
Chủ trang này là một lãng tử yêu Văn!
Cho nên chỉ nói những gì liên quan đến Văn!

« Older entries